Liên Hệ

Mr: Sơn
DD: 0985008966
Email: son@vantanphat.com
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khí Nito / khí Nito tinh khiết / khí Nito lỏng / vỏ chai chứa khí Nito/ khí nito HCM / nito giá rẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khí Nito / khí Nito tinh khiết / khí Nito lỏng / vỏ chai chứa khí Nito/ khí nito HCM / nito giá rẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Phẫu thuật lạnh sử dụng nito lỏng

Phẫu thuật lạnh (Cryo surgery) là kỹ thuật sử dụng tuyết nitơ lỏng tại chỗ để phá hủy có kiểm soát các tổ chức bệnh lý ở da và các bộ phận khác trong cơ thể. Vì kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện nên được sử dụng rộng rãi trong chuyên ngành Da liễu. Tuy nhiên, để ứng dụng có hiệu quả cần phải hiểu các nguyên tắc cơ bản về nguyên lý, cấu trúc máy, các chất làm lạnh, nhiệt độ lạnh, cấu trúc tổ chức... 
Nếu chỉ định và điều trị không đúng sẽ gây những biến chứng, kết quả ngoài ý muốn.
 
                                                                                     TS. Nguyễn Sỹ Hóa
                                                                                                                         Viện Da liễu Quốc gia
1. Các chất làm lạnh thường được sử dụng
- Tuyết Dioxide carbon; nhiệt độ -790C.
- Nitơ oxide; nhiệt độ -750C.
- Nitơ lỏng; nhiệt độ:
o -200C nếu chấm bằng bông hoặc lông.
o -1800C nếu phun sương.
o -1960C nếu dùng đầu áp.
Như vậy, các chất làm lạnh khác nhau, cùng các dụng cụ, cách thức làm lạnh bề mặt khác nhau sẽ cho nhiệt độ âm khác nhau và gây tổn thương tổ chức ở mức độ khác nhau.
Ví dụ: ở nhiệt độ -200C có thể phá hủy các thương tổn lành tính ở nông; nhiệt độ -500C có thể phá hủy các thương tổn ác tính; đối với ni tơ lỏng ở nhiệt độ -1960C sẽ phá hủy tổ chức sâu và lan tỏa hơn...
2. Cơ chế
Về sinh bệnh học: Tuyết lạnh gây thiếu máu cục bộ và hủy hoại trực tiếp lên tổ chức đó như tế bào, tổ chức liên kết, mạch máu, vi khuẩn, vi rút, do đông vón, ưu trương.... Cơ chế miễn dịch vẫn đang được nghiên cứu.
Áp lạnh không gây chết người vì vậy ở độ lạnh âm và tốc độ (1000C-1900C-/phút) có thể được áp trên các tổ chức khác nhau.
3. Các thương tổn thường được điều trị bằng cryo surgery
3.1. Hạt cơm thường, hạt cơm phẳng

Vi rút khá nhạy cảm với tuyết ni tơ, kèm theo sự hủy hoại tổ chức mang vi rút, đã cho kết quả tốt. Hơn nữa, tuyết ni tơ kích thích đáp ứng miễn dịch sau đó đối với các vi rút còn "sót lại" và bội nhiễm cũng xảy ra ít hơn.
Kết quả cho thấy tốt hơn khi điều trị nhắc lại sau đó cứ 3-4 tuần 1 lần đến khi khỏi hoàn toàn.
- Độ âm: -400C à -500C.
- Thời gian: Lúc đầu 5-10 giây để thử độ nhạy cảm của bệnh nhân với ni tơ lỏng sau đó tăng 15-30 giây. 3.2. Hạt cơm da dầu/dày sừng da mỡ
- Thường gặp ở người có tuổi, nhất là vùng mặt. Thường bệnh nhân đến điều trị khi thấy nhiều thương tổn, kích thích ngứa, tăng sắc tố, đôi khi chảy máu.
- Dùng bình xịt mỏng (1-2mm trong 4-8 giây).
3.3. U hạt sinh mủ
Tổ chức hạt ở vết loét sau chấn thương đáp ứng rất tốt đối với tuyết ni tơ với "liều điều trị" ở nhiệt độ -200C - 300C trong 20-30 giây.
Nếu nghi ngờ về chẩn đoán, có thể làm Biopsy để loại trừ các bệnh khác trước khi điều trị.
3.4. Các mảng tăng sắc tố phẳng trên da và các thương tổn mạch máu.
3.5. Sừng hóa do ánh sáng.
Chú ý: Các thương tổn sừng hóa do ánh sáng đôi khi là giai đoạn đầu của ung thư tế bào đáy, tế bào gai vì vậy cần chú ý để có chẩn đoán và điều trị thích hợp. Nếu nghi ngờ xét nghiệm tế bào học để chẩn đoán xác định và điều trị, chủ yếu phẫu thuật theo phương pháp Mohs.
3.6. Sẹo lồi (keloids) và sẹo quá phát (hypertrophic)
Sẹo lồi và sẹo quá phát là những thương tổn lành tính do rối loạn sinh tổng hợp và hình thành quá mức collagen ở da trong quá trình liền vết thương không bình thường. - Sẹo lồi gồm những bó sợi collagen sát nhau, thường chờm ra ngoài ranh giới với tổ chức da lành do tăng sinh quá mức của các nguyên bào sợi ở vùng ngoại vi sẹo.
- Ngược lại, sẹo quá phát chứa phần lớn nguyên bào sợi, các mạch máu nhỏ, sẹo khu trú trong phạm vi vết thương cũ, không chờm ra ngoài rìa thương tổn.
Điều trị: Tùy khối lượng sẹo dùng đầu áp (probe)
T0 đầu áp
T0 tổ chức
T0 đông lạnh
Thải nhiệt
-850C-1900C
-200C-250C
30 giây
20-60 giây
- Các nghiên cứu cho thấy: áp lạnh đối với sẹo quá phát tốt hơn đối với sẹo lồi. Số lần nhắc lại từ 3 trở lên tốt hơn chỉ với 1 lần. Sẹo ≤ 2 năm đáp ứng tốt hơn sẹo > 2 năm.
- Các yếu tố không ảnh hưởng đến kết quả điều trị:
o Tuổi bệnh nhân.
o Giới.
o Kích thước/khối lượng sẹo.
o Vị trí sẹo.
o Can thiệp trước đó.
- Cơ chế: áp lạnh làm giảm đáng kể collagen nhóm I; tăng sinh tổng hợp collagen nhóm IV.
4. Các diễn biến bình thường sau thủ thuật
- Đỏ vùng ngoại vi sau 30 phút.
- Phù nề thương tổn vài phút đến vài giờ.
- Hình thành bọng nước sau 1 - 3 ngày.
- Rỉ dịch huyết thanh sau vài ngày đến 2 tuần.
- Đóng vảy sau tuần thứ 3 thứ 4.
- Khỏi để lại sẹo teo nhẹ, phẳng với mặt da lành.
5. Tác dụng phụ và biến chứng
5.1. Tác dụng phụ
Nói chung nếu chỉ định đúng, máy móc thiết bị đạt tiêu chuẩn, cán bộ được đào tạo, có kỹ thuật tốt, kỹ thuật dùng tuyết ni tơ là phương pháp điều trị có hiệu quả. Tuy nhiên, một số tác dụng phụ không mong muốn cần chú ý:
- Đau, sưng nề vùng áp tuyết.
- Hình thành bọng nước trên thương tổn (thường tự xẹp hoặc chích tháo dịch, khỏi sau 1-2 tuần). Đề phòng và xử trí: Có thể bôi mỡ corticoid sau thủ thuật 2 - 3 ngày đầu. Nếu có bọng nước, dùng kim chích tháo dịch, bôi dung dịch castellani, mỡ kháng sinh.
5.2. Biến chứng
- Loét, nhiễm trùng, chậm lành vết thương thường gặp khi phối hợp với tiêm corticoid.
- Rối loạn cảm giác, thường giảm cảm giác.
- Hoại tử.
- Hình thành đám tổ chức hạt như hạt kê.
- Giảm sắc tố không hồi phục hoặc tăng sắc tố vùng ngoại vi thương tổn thường gặp trong điều trị sẹo lồi, sẹo quá phát.
- Teo da chiếm 1%-8% trường hợp, các biến chứng thường liên quan đến thời gian áp tuyết và số lần áp tuyết lại. Đề phòng: Không áp tuyết quá lâu; tạo tổn thương quá sâu; không gây tổn thương ra vùng da lành. Khi có biến chứng nhiễm trùng, hoại tử: Dùng kháng sinh toàn thân; cắt lọc; kháng sinh tại chỗ; có thể cấy da khi có tổn thương rộng.
6. Chống chỉ định
- Bệnh Raynaud.
- Các bệnh chất tạo keo như xơ cứng bì, lupus.
- Các bệnh đầu chi như viêm tắc động mạch, loét mạn tính do các nguyên nhân khác nhau...
- Lưu ý vùng da đen, dễ bị giảm sắc tố kéo dài do tổn thương tế bào hắc tố.
CÁC TẾ BÀO, TỔ CHỨC MÔ KHÁC CỦA DA NHẠY CẢM VỚI NHIỆT ĐỘ THẤP
- Bớt hình mắt lưới/mạng nhện (Bớt Clack) thường có tác dụng tốt với tuyết ni tơ.
- Các thương tổn dày, nổi gờ trên mặt da như hạt cơm chứa nhiều chất sừng thường ít nhạy cảm với tuyết ni tơ.
- Tuyết ni tơ phải đảm bảo "đủ” độ sâu và khu trú trong diện tích thương tổn, không để tổn thương tổ chức lành xung quanh.
- Phải ghi chép cẩn thận thời gian trực tiếp đầu áp lạnh trên thương tổn và số lần, thời gian làm lạnh saud dó (thời gian tan tuyết/thời gian giữa 2 lần lặp lại/thời gian áp tuyết lần sau; thời gian điều trị lại lần sau (thường sau 3 - 4 tuần). Nói cách khác, phải điều chỉnh hợp lý thời gian áp lạnh, thời gian "tan băng", thời gian lặp lại để điều chỉnh độ nông sâu, ảnh hưởng của độ lạnh với tổ chức lành xung quanh thương tổn.
- Tuyết ni tơ, kết quả điều trị phụ thuộc vào:

Vùng da (dày, mỏng...).
Loại tổ chức (tế bào, mô liên kết...)
Mạch máu trong tổ chức (ít, nhiều, lớn, nhỏ...).
Đặc điểm thương tổn.
Kỹ thuật.
Thiết bị.

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Khí Nitơ, khí Nitơ tinh khiết, khí Nitơ 5, khí Nitơ 4.5, khí Nitơ 5.5, khí Nitơ, khí Nitơ 4

CTY TNHH VẠN TẤN PHÁT là đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp Khí Nitơ, khí Nitơ tinh khiết, khí Nitơ 5, khí Nitơ 4.5, khí Nitơ 5.5, khí Nitơ 6, khí Nitơ 4

Với đội ngũ nhân viên kỹ thuật nhiệt tình, công nghệ sản xuất hiện đại, giá cả hàng hóa phù hợp chúng tôi luôn được sự đánh giá cao của khách hàng trong và ngoài nước

Ứng dụng của Nito 

Nitơ dạng khí được sản xuất nhanh chóng bằng cách cho nitơ lỏng (xem dưới đây) ấm lên và bay hơi. Nó có nhiều ứng dụng, bao gồm cả việc phục vụ như là sự thay thế trơ hơn cho không khí khi mà sự ôxi hóa là không mong muốn;
  • để bảo quản tính tươi của thực phẩm đóng gói hay dạng rời (bằng việc làm chậm sự ôi thiu và các dạng tổn thất khác gây ra bởi sự ôxi hóa)
  • trên đỉnh của chất nổ lỏng để đảm bảo an toàn
Nó cũng được sử dụng trong:
  • sản xuất các linh kiện điện tử như tranzito, điốt, và mạch tích hợp (IC).
  • sản xuất thép không gỉ
  • bơm lốp ô tô và máy bay[1] do tính trơ và sự thiếu các tính chất ẩm, ôxi hóa của nó, ngược lại với không khí (mặc dù điều này là không quan trọng và cần thiết đối với ô tô thông thường [2])
Ngược lại với một số ý kiến, nitơ thẩm thấu qua lốp cao su không chậm hơn không khí. Không khí là hỗn hợp chủ yếu chứa nitơ và ôxy (trong dạng N2 và O2), và các phân tử nitơ là nhỏ hơn. Trong các điều kiện tương đương thì các phân tử nhỏ hơn sẽ thẩm thấu qua các vật liệu xốp nhanh hơn.
Một ví dụ khác về tính đa dụng của nó là việc sử dụng nó (như là một chất thay thế được ưa chuộng cho điôxít cacbon) để tạo áp lực cho các thùng chứa một số loại bia, cụ thể là bia đen có độ cồn cao và bia ale của Anh và Scotland, do nó tạo ra ít bọt hơn, điều này làm cho bia nhuyễn và nặng hơn. Một ví dụ khác về việc nạp khí nitơ cho bia ở dạng lon hay chai là bia tươi Guinness.

Nitơ hóa lỏng.
Nitơ lỏng được sản xuất theo quy mô công nghiệp với một lượng lớn bằng cách chưng cất phân đoạn không khí lỏng và nó thường được nói đến theo công thức giả LN2. Nó là một tác nhân làm lạnh (cực lạnh), có thể làm cứng ngay lập tức các mô sống khi tiếp xúc với nó. Khi được cách ly thích hợp khỏi nhiệt của môi trường xung quanh thì nó phục vụ như là chất cô đặc và nguồn vận chuyển của nitơ dạng khí mà không cần nén. Ngoài ra, khả năng của nó trong việc duy trì nhiệt độ một cách siêu phàm, do nó bay hơi ở 77 K (-196°C hay -320°F) làm cho nó cực kỳ hữu ích trong nhiều ứng dụng khác nhau, chẳng hạn trong vai trò của một chất làm lạnh chu trình mở, bao gồm:
  • làm lạnh để vận chuyển thực phẩm
  • bảo quản các bộ phận thân thể cũng như các tế bào tinh trùng và trứng, các mẫu và chế phẩm sinh học.
  • trong nghiên cứu các tác nhân làm lạnh
  • để minh họa trong giáo dục
  • trong da liễu học để loại bỏ các tổn thương da ác tính xấu xí hay tiềm năng gây ung thư, ví dụ các mụn cóc, các vết chai sần trên da v.v.
  • Nitơ lỏng có thể sử dụng như là nguồn làm mát để tăng tốc CPU, GPU, hay các dạng phần cứng khác.